Đang tải... Vui lòng chờ...
Liên kết

 

 

Thời tiết
Hôm nay
Ngày mai

Tái cơ cấu ngành Công nghiệp Cà Mau là đòi hỏi từ nội bộ ngành

         Trong những năm gần đây cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch mạnh đã làm cho công nghiệp trở thành ngành kinh tế chiếm tỷ trọng cao trong GRDP của tỉnh Cà Mau. Năm 2010 chiếm 33,58% GDP; ước năm 2015 36,5%. Tốc độ tăng trưởng hàng năm khá cao, sản xuất công nghiệp ngày càng đa dạng hơn, một số doanh nghiệp lớn của Trung ương đã tiến hành đầu tư vào ngành công nghiệp như sản xuất điện, đóng tàu, sản xuất phân đạm,… đến nay một số ngành bắt đầu cho ra sản phẩm phục vụ xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế tỉnh nhà.
         Số liệu thống kê cho thấy, sự tăng tr­ưởng chung của kinh tế tỉnh Cà Mau gắn liền với tăng trưởng của công nghiệp. Phát triển công nghiệp sẽ giúp phát triển các ngành khác, nhất là dịch vụ và công nghiệp là yếu tố quan trọng tạo ra sức mua hàng hóa, dịch vụ. Công nghiệp Cà Mau hiện nay đ­ược cấu thành bởi 3 nhóm ngành chính gồm: Công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí, nước. Cũng qua phân tích số liệu thống kê cho thấy: nếu giai đoạn 2006-2010, giá trị sản xuất công nghiệp Cà Mau có tốc độ tăng trưởng bình quân 18,59%/năm; thì giai đoạn 2011-2015 chỉ còn tăng trưởng bình quân 8,99%/năm.
          Đồng thời, qua phân tích số liệu thống kê thấy rằng công nghiệp Cà Mau tăng trưởng khá cao ở kỳ kế hoạch năm năm trước; sau giảm dần nhưng không đều; những mốc tăng trưởng nhảy vọt góp phần làm tăng trưởng bình quân công nghiệp Cà Mau tăng cao khi có các dự án lớn như Nhà máy điện, nhà máy đạm  đưa vào vận hành thương mại; đặc biệt công nghiệp chế biến thực phẩm, vốn là thế mạnh của công nghiệp Cà Mau, tốc độ tăng trưởng rất cao là 17,74%/năm của ngành trong giai đoạn 2001-2005, nhưng tốc độ tăng trưởng chậm lại trong giai đoạn 2006-2010 tăng 6,64%/năm, và bốn năm đầu giai đoạn 2011-2015 tăng dưới 6%; đặc biệt năm 2012 tăng trưởng âm.
          Nguyên nhân của hiện tượng trên có thể bởi:
          Công nghiệp chế biến của tỉnh chủ yếu là chế thủy hải sản. Trong những năm gần đây đã được đầu đổi mới công nghệ, tăng năng suất chế biến, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm chế biến. Tuy nhiên do thường xuyên gặp tình trạng thiếu nguyên liệu và chịu tác động mạnh của đợt suy thoái kinh tế thế giới (những tháng cuối năm 2008 đến những tháng đầu năm 2009) nên đạt tốc độ tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng chung toàn ngành công nghiệp. Năm 2010 giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến (theo giá cố định) đạt 9.050,13 tỷ đồng, tăng 31,49% so với năm 2006, tăng bình quân 6,64%/năm. Tiếp theo giai đoạn 2011-2015, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản luôn phải vật lộn với muôn vàn khó khăn, thách thức được xác định là rất gay gắt và chưa từng gặp, tưởng chừng như khó vượt qua khi mà trong năm 2011 - 2012 nhiều doanh nghiệp đã lần lượt sụp đổ vì không trụ nổi trước những thách thức nghiệt ngã của thị trường, dẫn đến giá trị sản xuất chuyên ngành tăng trưởng âm.
          Nhìn chung tình hình sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2006 – 2014 có chuyển biến rõ nét, một số ngành công nghiệp quan trọng được đầu tư xây dựng trên địa bàn, công nghiệp chế thực phẩm có sự đầu tư công nghệ mới, số lượng sản phẩm tinh chế có hàm lượng gia tăng cao chiếm tỷ trọng ngày một tăng tổng sản phẩm sản xuất. Song, do thiếu nguyên liệu nên ngành công nghiệp chế biến của tỉnh tăng không cao
          Như vậy, để công nghiệp Cà Mau phát triển nhanh và bền vững, thì ngoài việc địa phương phối hợp tốt với các Tập đoàn  kinh tế triển khai các dự án công nghiệp lớn như: Dự án Nhà máy phân đạm Cà Mau 800.000 tấn urê/năm, dự kiến hoàn thành cuối năm 2011 và đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2012;  Dự án Nhà máy xử lý khí Khánh An; các dự án trong Khu Kinh tế Năm Căn… ; điều đặc biệt quan trọng là khai thác tối đa công suất máy móc của các nhà máy chế biến thuỷ sản xuất khẩu hiện có cộng với các nhà máy phát triển hạn chế trong giai đoạn đến năm 2020 theo hướng tinh chế thì vấn đề hết sức quan trọng là phát triển nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hải sản.
Muốn giải bài toán này thì một giải pháp khá quan trọng là phát triển mạnh việc nuôi tôm công nghiệp có quy hoạch để tăng nhanh giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu của Cà Mau. Đồng thời với việc thực hiện đồng bộ nhóm giải pháp theo Quy hoạch phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tỉnh Cà Mau giai đoạn đến năm 2020 đã đề ra; trong đó tập trung thực hiện các nhóm giải pháp:
Giải pháp về nguồn nhân lực:
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao là yếu tố quan trọng đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp, có vai trò quyết định đến chất lượng phát triển công nghiệp, vì vậy cần đặc biệt quan tâm và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ, nhằm đảm bảo cung cấp đủ nguồn nhân lực có kỹ thuật, nhất là lao động kỹ thuật cao cho phát triển sản xuất công nghiệp. Hướng đào tạo nguồn nhân lực cần tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:
Trên cơ sở quy hoạch các cơ sở đào tạo nghề, cần tiếp tục đầu tư đồng bộ, nâng cấp một số trường dạy nghề hiện có với các trang thiết bị hiện đại, khắc phục tình trạng chênh lệch quá lớn về trình độ thiết bị trong các trường dạy nghề với thực tiễn sản xuất, đảm bảo tính cân đối giữa dạy lý thuyết và thực hành, đảm bảo cho người lao động sau đào tạo có thể sớm phát huy được kiến thức đào tạo trong thực tiễn.
Tập trung vào đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật. Đồng thời có kế hoạch đào tạo cho đội ngũ quản lý và các chủ doanh nghiệp các kiến thức về quản lý kinh tế, về sản xuất kinh doanh, hội nhập, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động trong cạnh tranh và hội nhập.
Đa dạng hóa và mở rộng các hình thức hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực theo hướng gắn kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, từng bước thực hiện đào tạo theo yêu cầu và địa chỉ, nhằm đảm bảo cho lao động đào tạo ra được sử dụng đúng với chương trình đã đào tạo.
Công tác đổi mới sắp xếp lại các doanh nghiệp:
Có biện pháp phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sau khi sắp xếp, cổ phần hoá đẩy nhanh tiến độ đầu tư thiết bị, công nghệ mới, nâng cao năng lực sản xuất, năng lực công nghệ, thực sự là vai trò dẫn đầu của các phân ngành sản xuất công nghiệp.
Khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức lại bộ máy quản lý điều hành sản xuất cho phù hợp với cơ chế thị trường, trong đó chú trọng thúc đẩy hoạt động của 02 bộ phận: bộ phận nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại; bộ phận nghiên cứu phát triển (R&D) trong các doanh nghiệp công nghiệp.
Nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm, xây dựng mô hình doanh nghiệp mẹ - con, tập đoàn kinh tế mạnh phù hợp với điều kiện của tỉnh theo các tiêu chí: quy mô vốn, năng lực sản xuất, năng lực công nghệ, trình độ nhân lực, vai trò đầu tàu lan toả, hiệu quả sản xuất… để từng bước đưa các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, có tính chất ngành nghề và sản xuất sản phẩm cùng loại liên kết với nhau, hình thành tập đoàn kinh tế địa phương.
 Hình thành và đẩy mạnh hoạt động của các Hiệp hội doanh nghiệp:
Khuyến khích thành lập các Hiệp hội doanh nghiệp theo quy mô, ngành nghề, địa bàn hoạt động … để các doanh nghiệp tạo thành các mối liên kết chặt chẽ, giúp đỡ nhau trong sản xuất kinh doanh như: hỗ trợ đào tạo nhân sự, quảng bá công nghệ, thiết bị tiên tiến, cho vay vốn, tiêu thụ sản phẩm, hợp tác sản xuất, quảng bá xúc tiến thị trường và giải quyết các tranh chấp thương mại.
Giải pháp tập trung phát triển các nhóm sản phẩm, các ngành sản xuất có lợi thế cạnh tranh:
Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển các ngành hàng, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh để định hướng cho doanh nghiệp mở rộng đầu tư. Tập trung phát triển các ngành có lợi thế cạnh tranh, có thương hiệu như: các sản phẩm chế biến thủy sản xuất khẩu, sản xuất phân đạm... Có cơ chế tạo điều kiện về mặt bằng sản xuất – kinh doanh, hỗ trợ đổi mới công nghệ, hỗ trợ thông tin thị trường... đối với doanh nghiệp tham gia vào các lĩnh vực khuyến khích phát triển.
Tập trung mọi nguồn lực tổ chức thực hiện chiến lược xuất khẩu của tỉnh. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu các nhóm hàng có tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu lớn, truyền thống như chế biến hải sản, phát triển các mặt hàng có tiềm năng, có tốc độ tăng trưởng và giá trị gia tăng cao như: cơ khí chế tạo, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ; tăng xuất khẩu dịch vụ và xuất khẩu tại chỗ thông qua việc bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ thu ngoại tệ cho khách du lịch. Từng doanh nghiệp phải khẩn trương đổi mới để tăng sức cạnh tranh; xúc tiến thương mại và đầu tư, phát triển thị trường mới, sản phẩm mới và thương hiệu.
Đỗ Gia Toàn - TP Kế hoạch - Kỹ Thuật
In văn bản

Thiết kế bởi eKip