Đang tải... Vui lòng chờ...
Liên kết

 

 

Thời tiết
Hôm nay
Ngày mai

Một số quy định về xây dựng Biện pháp phòng ngừa ứng phó sự cố hóa chất

Qua theo dõi trên các phương tiện thông tin đại chúng, thời gian qua nhiều vụ cháy nổ, rò rỉ hóa chất xảy ra liên tục trong thời gian gần đây là hồi chuông cảnh báo về những “lỗ hổng” trong nhận thức và quản lý hóa chất. Để từng bước khắc phục tình trạng này, trước hết các cơ sở sản xuất, kinh doanh, cất giữ hóa chất phải nghiêm túc thực hiện các quy định của Nhà nước về hóa chất; trong đó thực hiện tốt việc xây dựng kế hoạch, biện pháp phòng ngừa ứng phó sự cố hóa chất là rất quan trọng.
Nói đến hóa chất, thường nghĩ ngay tới các loại thuốc bảo vệ về thực vật; vật liệu nổ,… Nhưng thực ra, theo quy định của Luật Hóa chất ngày 21 tháng 11 năm 2007 thì chúng ta tiếp xúc với hóa chất là thường xuyên, liên tục, vì hóa chất là đơn chất, hợp chất, hỗn hợp chất được con người khai thác hoặc tạo ra từ nguồn nguyên liệu tự nhiên, nguyên liệu nhân tạo.
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh cần thiết phải xây dựng biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất. Danh mục hóa chất nguy hiểm mà tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, cất giữ, bảo quản, sử dụng phải xây dựng biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất được quy định cụ thể tại Phụ lục VII, Nghị định số 26/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 04 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2008/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hóa chất. Một số hóa chất có liên quan để các cơ sở sản xuất, kinh doanh và cán bộ quản lý chuyên ngành tham khảo như sau: Phenol; Kali hydroxit; Natri hydroxit; Kẽm peroxit; Chì oxit; Hydrogen; Foocmaldehit (nồng độ > 90%); Metanol; Aceton; Butanol; Benzen; Bột nhôm; Magiê; Thủy ngân; Kali; Natri; Asen; Lưu huỳnh đioxit; Lưu huỳnh trioxit; Metan; Etan; Axetylen; Amoniac; Axit sunphuric; Lưu huỳnh; Oxy; Các khí hóa lỏng đặc biệt dễ cháy (bao gồm cả LPG và khí thiên nhiên hóa lỏng hoặc không hóa lỏng); Xăng và xăng naphtal; Dầu kerosen ( bao gồm cả nhiên liệu lỏng động cơ); Dầu đốt (bao gồm cả diesel nhiên liệu dầu đốt lò và các hỗn hợp dầu nhiên liệu). Để cụ thể hóa các quy định của Nghị định 26/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 04 năm 2011 của Chính phủ, ngày 05 tháng 8 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 20/2013/TT-BCT Quy định về Kế hoạch và Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất trong lĩnh vực công nghiệp có quy định cụ thể tại Điều 12. Các trường hợp phải xây dựng biện pháp: Dự án hóa chất với khối lượng tồn trữ hóa chất lớn nhất tại một thời điểm nhỏ hơn khối lượng giới hạn quy định tại Phụ lục VII, Nghị định số 26/2011/NĐ-CP phải xây dựng biện pháp trước khi dự án chính thức hoạt động; cơ sở hóa chất với khối lượng tồn trữ hóa chất lớn nhất tại một thời điểm nhỏ hơn khối lượng giới hạn quy định tại Phụ lục VII, Nghị định số 26/2011/NĐ-CP; Các hóa chất chưa có khối lượng giới hạn quy định tại Phụ lục VII, Nghị định số 26/2011/NĐ-CP phải xây dựng biện pháp.”
Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, cất giữ, bảo quản, sử dụng hóa chất nêu trên đều phải xây dựng biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất. Đồng thời Thông tư số 20/2013/TT-BCT Quy định về thời gian hoàn chỉnh biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất tại Điều 20 quy định chuyển tiếp, khoản 2. Các dự án hóa chất đã tiến hành đầu tư, xây dựng công trình; các cơ sở hóa chất đang hoạt động trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành phải xây dựng biện pháp gửi Sở Công Thương xác nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 2014.             
Tuy nhiên, để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xăng dầu và LPG, ngày 06 tháng 01 năm 2015 Bộ Công Thương đã ban hành Công văn số 26/BCT-HC về xây dựng Kế hoạch, Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất trong lĩnh vực xăng dầu và LPG; trong đó quy định “tạm thời chưa xem xét việc yêu cầu xây dựng Kế hoạch và Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất trước ngày 31 tháng 12 năm 2015 đối với các doanh nghiệp này.”
Nghị định 163/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định tại: “Điều 5. Hành vi vi phạm quy định về an toàn trong sản xuất, kinh doanh và cất giữ hóa chất nguy hiểm”:
Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Không có bảng nội quy về an toàn hóa chất tại khu vực sản xuất, kinh doanh và cất giữ hóa chất nguy hiểm; Không có hệ thống báo hiệu phù hợp với mức độ nguy hiểm của hóa chất tại khu vực sản xuất, kinh doanh và cất giữ hóa chất nguy hiểm; Không có trang thiết bị, phương tiện ứng cứu sự cố tại khu vực sản xuất, kinh doanh và cất giữ hóa chất nguy hiểm.
Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Không báo cáo cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp thay đổi những nội dung đã được phê duyệt tại Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất hoặc những nội dung đã được xác nhận tại Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất; Không thực hiện đúng các yêu cầu đề ra tại Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất đã được phê duyệt hoặc Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất đã được xác nhận.
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi không xây dựng Kế hoạch hoặc Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất trong sản xuất, kinh doanh và cất giữ hóa chất nguy hiểm theo quy định của pháp luật về hóa chất.
Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không có kho để cất giữ hóa chất nguy hiểm, trừ trường hợp kinh doanh hóa chất nguy hiểm được vận chuyển trực tiếp đến kho của bên mua. Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ sản xuất, kinh doanh, cất giữ hóa chất nguy hiểm từ 01 đến 03 tháng trong trường hợp gây mất an toàn, gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe con người và môi trường đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.
Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu hủy hóa chất nguy hiểm nếu gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều này.
Để sử dụng hóa chất an toàn, đề nghị các đơn  vị có sản xuất, kinh doanh hóa chất, nghiên cứu, thực hiện tốt các văn bản sau:
Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005; Nghị định số 80/2006/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 08/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường; Nghị định 21/2008/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 28/02/2008 sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Luật Hóa chất số 06/2007/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/11/2007; Nghị định số 108/2008/NĐ-CP ngày 07/10/2008 của Chính phủ về hướng đẫn thực hiện một số điều của Luật Hóa chất; Nghị định số 26/2011/NĐ-CP ngày 08/4/2011 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2008/NĐ-CP ngày 07/10/2008 của Chính phủ về hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Hóa chất; Thông tư số 28/2008/TT-BCT ngày 28/6/2010 của Bộ Công Thương quy định cụ thể một số điều của Luật Hóa chất và Nghị định 108/2008/NĐ-CP ngày 07/10/2008 của Chính phủ về hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Hóa chất; Thông tư 20/2013/TT-BCT do Bộ Công Thương ban hành ngày 05/8/2013 quy định về kế hoạch và biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất trong lĩnh vực công nghiệp./.
Đỗ Gia Toàn - TP. Kế hoạch - Kỹ thuật

 

In văn bản

Thiết kế bởi eKip